Chiến lược biển của Trung Quốc: Từ Đại hội 18 đến Đại hội 19 Đảng Cộng sản Trung Quốc

14/06/2018 10:04:00 AM

(Canhsatbien.vn) - 

Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 19 diễn ra từ ngày 18-24/10/2017 tiếp tục thực hiện mục tiêu do Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 18 (11/2012) đề ra là xây dựng Trung Quốc thành “cường quốc biển”. Việc đề ra và thực hiện mục tiêu xây dựng “cường quốc biển” có thể được coi là sự cụ thể hóa Chiến lược biển của Trung Quốc. Trong những năm qua, Ban lãnh đạo Trung Quốc mà hạt nhân là Tập Cận Bình đã triển khai quyết liệt, đồng bộ nhiều biện pháp nhằm tăng cường sức mạnh tổng hợp hướng tới mục tiêu trở thành “cường quốc biển” cùng với mục tiêu trở thành cường quốc kinh tế và quân sự thế giới vào năm 2049 khi Trung Quốc kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

Đại hội Đảng cộng sản Trung Quốc lần thứ 19 khai mạc tại Đại lễ đường Nhân dân Bắc Kinh.

Tiến hành cải cách quân đội, ưu tiên phát triển hải quân
Trong chương trình cải cách quân đội, các quân chủng được điều chỉnh biên chế theo hướng cắt giảm lục quân, tăng thêm biên chế cho hải quân và không quân, hướng tới đạt tỉ lệ lục quân/hải quân và không quân là 4/6, tương tự như cơ cấu lực lượng vũ trang Mỹ, Anh, Pháp. Theo đó, Hải quân Trung Quốc sẽ phát triển thành một lực lượng có thể đảm nhiệm các nhiệm vụ phức tạp và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ; chuyển đổi trọng tâm từ “phòng thủ ngoài khơi” sang kết hợp “phòng thủ ngoài khơi” với “bảo vệ vùng biển mở” để đối phó với “mối đe dọa đối với quyền và lợi ích hàng hải của Trung Quốc”. Hải quân Trung Quốc sẽ tăng cường khả năng răn đe và phản công chiến lược, khả năng cơ động và tác chiến liên hợp trên biển, khả năng phòng thủ và bảo đảm toàn diện trên biển, khả năng tác chiến ở nước ngoài.

Hải quân sẽ tập trung vào việc phát triển các phương tiện mang các hệ thống vũ khí và trang bị hiện đại và khả năng bảo đảm chiến đấu; thực hiện chương trình xây dựng các đơn vị tác chiến cơ động, có khả năng tác chiến trong điều kiện chiến tranh thông tin và tăng cường khả năng tác chiến ngoài lãnh thổ, tác chiến liên hợp và bảo đảm tập trung. Mục tiêu chiến lược then chốt của Hải quân Trung Quốc là xây dựng lực lượng tàu ngầm hùng mạnh. Hải quân đã có kế hoạch bổ sung tàu ngầm hạt nhân tiến công Type-095, có độ ồn giảm đáng kể so với tàu ngầm Type-093. Dự kiến, tàu ngầm Type-095 sẽ được đưa vào trang bị năm 2020. Tàu ngầm Type-096 sẽ được sử dụng để thay thế các tàu ngầm Type-094, được trang bị 24 tên lửa đường đạn JL-3, tầm bắn lên đến 10.000 km. Hải quân Trung Quốc cũng đang thực hiện chương trình hiện đại hoá các tàu mặt nước với mục tiêu tăng số lượng tàu mặt nước lên con số 351 tàu vào năm 2020 và đóng 5 tàu sân bay trong 15 năm tới, nâng số lượng tàu sân bay lên 6 chiếc. Trung Quốc cũng đang tập trung đầu tư phát triển các công nghệ mới cho Hải quân, bao gồm: vũ khí sóng viba năng lượng cao, có khả năng phá huỷ các thiết bị điện tử của đối phương; robot và các phương tiện không người lái, tàu kho; vũ khí laze chiến thuật bảo vệ tàu chiến; vũ khí phòng không phóng từ tàu ngầm; vũ khí laze, chùm tia và sóng viba tiến công chính xác; vũ khí xung điện từ...

Tổ chức lại các lực lượng chấp pháp trên biển

Trước đây, Trung Quốc có 5 lực lượng tham gia các hoạt động chấp pháp trên biển, gồm: Hải giám (thuộc Cục Hải dương Nhà nước), Hải cảnh (thuộc Bộ Công an), Ngư chính (thuộc Bộ Nông nghiệp), Hải quan (thuộc Tổng cục Hải quan) và Hải tuần. Do các lực lượng hoạt động độc lập với nhau, nên trong thực hiện nhiệm vụ thường xảy ra sự chồng chéo, công tác phối hợp giữa các lực lượng kém hiệu quả. Để xóa bỏ tình trạng này, tháng 3/2013, Trung Quốc đã tiến hành hợp nhất 5 lực lượng đặt dưới sự quản lý và chỉ huy của Cục Hải dương Nhà nước.

Đặc biệt, Trung Quốc chú trọng triển khai chiến lược “cải bắp”, với sự kết hợp giữa các lực lượng chấp pháp, dân sự, bán quân sự và quân sự. Theo đó, ngư dân, gồm cả tàu cá dân binh ở tuyến ngoài; hải giám và ngư chính ở tuyến giữa; hải quân ở tuyến trong cùng tham gia hỗ trợ bảo vệ các hoạt động trên biển. Đáng chú ý là Trung Quốc còn sử dụng số lượng lớn tàu cá dân binh (tàu vỏ sắt trọng tải lớn, trang bị hệ thống dẫn đường bằng vệ tinh, máy quay phim, súng phun nước...) và tàu cá dân sự hiện đại tham gia các hoạt động phục vụ các mục đích trên biển của Trung Quốc.

Xây dựng, quân sự hóa các đảo nhân tạo trên Biển Đông

Từ cuối năm 2013, Trung Quốc đẩy mạnh việc bồi lấp, xây dựng trái phép các đảo nhân tạo ở Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, quân sự hóa các đảo này thông qua việc xây dựng, lắp đặt trang thiết bị lưỡng dụng. Trung Quốc đã hoàn thành việc xây dựng 3 sân bay với đường băng dài 3.000m tại Chữ Thập, Xu Bi và Vành Khăn. Trung Quốc cũng đẩy mạnh việc cải tạo, bố trí một số vũ khí trang bị quân sự, xây dựng các cơ sở hỗ trợ Hải quân bằng trực thăng trên một số đảo nhỏ ở Hoàng Sa; nâng cấp 4 căn cứ không quân trên đảo Hải Nam, bảo đảm cho việc cất hạ cánh của các loại máy bay dân sự và quân sự hiện đại nhất.

Trung Quốc đã triển khai các hệ thống tên lửa chống hạm tại căn cứ Hải quân Du Lâm, Hải Nam sau khi triển khai các loại máy bay chiến đấu hiện đại (phạm vi tác chiến lên tới 1.500 km) tại 3 căn cứ ở khu vực Trường Sa, kết hợp với căn cứ không quân ở đảo Phú Lâm (Hoàng Sa) và đảo Hải Nam thì tầm tác chiến không quân của Trung Quốc có thể bao phủ toàn bộ Biển Đông và lãnh thổ của một số nước xung quanh.

Triển khai căn cứ Hải quân ở nước ngoài

Bên cạnh việc đẩy mạnh xây dựng các căn cứ quân sự tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chiếm đóng trái phép của Việt Nam, Trung Quốc cũng đang đầu tư nhiều tỉ USD để xây dựng các cảng biển, căn cứ Hải quân tại một số vị trí chiến lược ở Ấn Độ Dương. Trung Quốc đã đầu tư xây dựng một cơ sở hậu cần tại Obock, Djibouti nhằm bảo vệ lợi ích của Trung Quốc tại châu Phi, đồng thời hỗ trợ các hoạt động chống cướp biển, bảo vệ các tuyến đường biển qua biển Aden. Mặc dù Trung Quốc khẳng định đó chỉ là căn cứ hậu cần, song nhiều nhà phân tích cho rằng, đây được coi là căn cứ quân sự đầu tiên của Trung Quốc ở nước ngoài.

Ngoài ra, Trung Quốc còn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cảng Gwadar ở Pakistan, đồng thời triển khai lực lượng đồn trú tại đây. Cảng Gwadar có vị trí đặc biệt quan trọng, không chỉ bảo vệ lợi ích của Trung Quốc tại Pakistan mà còn bảo đảm cho Hải quân Trung Quốc có một căn cứ hoạt động gần với eo biển Hormuz (gần 51% dầu thô và 24% khí đốt tự nhiên nhập khẩu của Trung Quốc thông qua đường biển).

Chuyển từ chiến thuật “đường lưỡi bò” sang chiến thuật “Tứ Sa”

Gần đây, để tránh dư luận quốc tế chĩa mũi nhọn quá nhiều vào “đường lưỡi bò”, nhất là sau phán quyết của Tòa Trọng tài thường trực quốc tế (PCA), Trung Quốc đã chuyển từ chiến thuật “đường lưỡi bò” sang chiến thuật mới “Tứ Sa” (Trung Quốc gọi là Nam Sa, Tây Sa, Trung Sa, Đông Sa). Chiến thuật “Tứ Sa” được hiểu bao gồm vùng nước lịch sử và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý đối với một vùng biển rộng lớn xung quanh 4 khu vực gồm quần đảo Trường Sa, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Pratas (Bắc Biển Đông) và bãi Macclesfield ở phía Tây.

Đây là bước đi mới của Trung Quốc ở Biển Đông, một sự điều chỉnh mang tính chiến lược trong việc “cắt lát salami”, nhằm khẳng định “chủ quyền” của Trung Quốc ở Biển Đông. Tuy tập trung vào “Tứ Sa”, song không có nghĩa là Trung Quốc hoàn toàn từ bỏ “đường lưỡi bò”. Thực chất, Trung Quốc vẫn tiếp tục yêu sách “đường lưỡi bò” và sử dụng chiến thuật “Tứ Sa” để hỗ trợ cho tuyên bố phi lý của mình. Đây là một thủ đoạn ngoại giao, pháp lý mới của Trung Quốc mà chúng ta cần đề cao cảnh giác.
Hoàn thiện hành lang pháp lý về biển

Trung Quốc thành lập các cơ quan chỉ đạo, chuyên trách về vấn đề chủ quyền biển đảo như Ủy ban An ninh Quốc gia, Ủy ban Hải dương Quốc gia, tái cơ cấu Cục Hải dương Nhà nước; ban hành nhiều quy định cụ thể nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý cho việc thực hiện yêu sách chủ quyền như: Điều khoản về quản lý, dự báo, giám sát hải dương (6/2012); Quy định thực thi Luật Ngư nghiệp ở Biển Đông (1/2014); Luật Tăng cường an ninh quân sự trên biển (có hiệu lực từ ngày 1/8/2014); Quy hoạch khu chức năng đặc thù biển toàn quốc (8/2015); Quy định của Tòa án nhân dân tối cao về việc xử lý các vụ việc xảy ra trong vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc (8/2016)....

Tác động đối với khu vực

Việc Trung Quốc tăng cường tiềm lực quân sự gây lo ngại cho các nước trong khu vực, nhất là các nước láng giềng, buộc các nước này cũng phải tăng cường đầu tư mua sắm vũ khí trang bị quân sự, có thể dẫn đến cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực, đồng thời gia tăng nguy cơ xảy ra va chạm, xung đột trên thực địa. Do Trung Quốc tiếp tục tăng ngân sách quốc phòng (ngân sách quốc phòng Trung Quốc năm 2017 là 1.044 tỉ nhân dân tệ, tương đương với 151,43 tỉ USD), đẩy mạnh hoạt động quân sự hóa ở Biển Đông, gia tăng sức ép với các nước láng giềng, buộc các nước này phải liên minh, liên kết hoặc kêu gọi sự can dự của nước ngoài. Bên cạnh đó, việc Trung Quốc không từ bỏ các đòi hỏi phi lý đối với các vùng biển, đồng thời liên tục áp dụng các hoạt động khẳng định “chủ quyền”, tìm cách kiểm soát các tuyến hàng hải huyết mạch từ Biển Hoa Đông và Biển Đông qua eo biển Malacca đi Trung Đông, có thể ảnh hưởng đến an toàn và tự do hàng hải ở khu vực.

Tự nhận thức được điểm yếu về pháp lý trong yêu sách chủ quyền ở Biển Đông, Trung Quốc chủ trương giải quyết tranh chấp Biển Đông thông qua đàm phán song phương; sử dụng con bài kinh tế, chính trị để lôi kéo, chia rẽ tác động đến một số nước ASEAN. Điển hình là việc Trung Quốc đã tác động thành công đến Philippines, biến nước này từ một nước kiện Trung Quốc thành đối tác đàm phán song phương trong giải quyết vấn đề Biển Đông với Trung Quốc. Lợi dụng nguyên tắc đồng thuận của ASEAN, Trung Quốc tác động, lôi kéo một số nước ASEAN, làm cho một số cuộc họp không ra được Tuyên bố chung như Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 45 (AMM-45) tại Campuchia (2012); Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 30 tại Manila, Philippines (4/2017)...

Với vai trò, vị thế, cũng như ảnh hưởng của Trung Quốc trong quan hệ song phương, đặc biệt là quan hệ về kinh tế với các nước, kể cả Mỹ, Trung Quốc có nhiều lợi thế để gây sức ép, tác động đến các nước trong giải quyết các tranh chấp trên biển ở khu vực, không loại trừ khả năng xảy ra các thỏa thuận ngầm giữa Trung Quốc với một số nước gây tổn hại đến lợi ích của các nước khác, trong đó có Việt Nam.

Triển vọng triển khai chiến lược biển của Trung Quốc

Từ Đại hội lần thứ 18 đến nay, việc điều chỉnh và triển khai Chiến lược biển của Trung Quốc đã đạt được kết quả đáng kể, song Trung Quốc cũng đang phải giải quyết nhiều khó khăn, thách thức. Trước hết là khó khăn về tài chính đầu tư cho chương trình hiện đại hóa Hải quân. Mặc dù trong những năm gần đây, ngân sách dành cho các chương trình mua sắm, hiện đại hóa vũ khí trang bị hải quân được dành ưu tiên trong phân bổ ngân sách quốc phòng, song do chi phí rất tốn kém cộng với tiềm lực nền kinh tế bị giảm sút do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nên Trung Quốc không thể đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa Hải quân. Cùng với đó là tham vọng quá lớn của Trung Quốc về xây dựng lực lượng Hải quân hùng mạnh với 351 tàu chiến hiện đại, trong đó có 6 tàu sân bay đang tạo ra gánh nặng về ngân sách quốc phòng. Tính đến thời điểm hiện nay, Hải quân Trung Quốc chưa tạo ra được bước phát triển đột phá trong nghiên cứu chế tạo các hệ thống vũ khí trang bị thật sự tiên tiến.

Quá trình cải cách quân đội có một số bất cập, tranh giành nội bộ, đặc biệt quyết định bổ nhiệm một Tư lệnh hạm đội Hải quân làm Tư lệnh của một trong 5 chiến khu là quyết định chưa có tiền lệ (tháng 1/2017, Viên Dự Bách, Tư lệnh hạm đội Bắc Hải được bổ nhiệm làm Tư lệnh Chiến khu miền Nam), tạo ra sự phản ứng bất mãn từ các sĩ quan lục quân, không quân, khiến cho sự phối hợp giữa các lực lượng trong chiến khu gặp nhiều khó khăn.

Việc Trung Quốc công bố những yêu sách chủ quyền phi lý, thực hiện các hành động khẳng định “chủ quyền” trên biển Hoa Đông và Biển Đông, đặc biệt là việc Trung Quốc xây các đảo nhân tạo ở Trường Sa, quân sự hóa Biển Đông... khiến cho quan hệ giữa Trung Quốc và các nước láng giềng trở nên căng thẳng, cùng với sự suy giảm uy tín và hình ảnh ngày càng xấu đi của Trung Quốc dưới con mắt cộng đồng quốc tế.

Tình hình Biển Đông sau Đại hội lần thứ 19 Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nhân tố có thể gây căng thẳng, mất ổn định trong khu vực; không loại trừ khả năng xảy ra xung đột, va chạm trên biển. Với ưu thế vượt trội về tiềm lực kinh tế và quốc phòng, cũng như ảnh hưởng đối với các nước trong khu vực và quốc tế, Trung Quốc sẽ tiếp tục triển khai các biện pháp đồng bộ nhằm độc quyền kiểm soát Biển Đông. Trên thực địa, Trung Quốc sẽ tăng cường các hoạt động tuần tra, giám sát các khu vực trọng yếu ở Biển Đông.

Tiếp tục lợi dụng các hoạt động dân sự như đánh bắt hải sản, du lịch, dầu khí... ở sâu trong các vùng biển của nước khác để khẳng định “chủ quyền”, đồng thời sẵn sàng gây va chạm để lấy cớ gia tăng sức ép, buộc các bên tranh chấp chấp nhận “gác tranh chấp, cùng khai thác”. Về ngoại giao, Trung Quốc sẽ tiếp tục dùng lợi thế về kinh tế để tác động, chia rẽ các nước ASEAN, cũng như hạn chế sự can dự của các nước lớn vào vấn đề Biển Đông. Về tuyên truyền, Trung Quốc sẽ tiếp tục chiến dịch tuyên truyền về một Biển Đông ổn định, khẳng định “chủ quyền” của Trung Quốc tại Biển Đông, nhưng sẽ hạn chế đề cập đến “đường lưỡi bò” đã bị PCA bác bỏ mà tập trung tuyên truyền về “Tứ Sa”.
Đối với Việt Nam, trong bối cảnh ASEAN bị chia rẽ sâu sắc, Philippines bắt tay với Trung Quốc, có nhiều khả năng trong thời gian tới, Trung Quốc sẽ tập trung mũi nhọn vào Việt Nam. Không chỉ gây sức ép về ngoại giao, trên thực địa, Trung Quốc sẽ tăng cường các hoạt động nhằm tạo lợi thế trong việc giải quyết tranh chấp Biển Đông với Việt Nam, tạo khó khăn cho việc bảo vệ chủ quyền biển đảo của ta./.

Đại tá, ThS. Vũ Văn Khanh - Viện Chiến lược Quốc phòng

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục gửi về banbientapcsb@gmail.com

Các tin liên quan